Tomica ‘Flappy Bird’ tribute

Tomica ‘Flappy Bird’ :[|] độ bởi Chili Pepper Garage – Mitsubishi Delica

Dù gì đi chăng nữa thì ‘chú chim chỉ hót được một nốt’ của Nguyễn Hà Đông cũng đã được cả Thế giới chú ý, điều có thể nói hiếm người nào trong chúng ta làm được. Tui nghĩ, bà con mình nên đón nhận Flappy Bird trở về như một người hùng, đừng cứng lòng mà chê bai tị hiềm nữa.

flappy-bird-chilipeppergarage

Mitsubishi Type 73 light truck JIRSP

1:64, Kyosho Military Collection

The Mitsubishi Type 73 Light Truck (gồm kiểu Kyū và kiểu Shīn) là dòng tải hạng nhẹ còn được coi như những chiếc mini SUV 1/2 tấn trong lực lượng phòng vệ Nhật Bản – JSDF. Chúng được sản xuất bởi Mitsubishi Motors từ năm 1973 đến nay.

Cả 2 kiểu Kyū và Shīn đều có khả năng trang bị nhiều loại hệ thống khí tài tác chiến chống tăng và bộ binh chẳng hạn như ống phóng hoả tiễn chống tăng Kawasaki Type 64Kawasaki Type 79 và bệ phóng hoả tiễn chống tăng dẫn đường bằng laser Kawasaki Type 87. Pháo không giật Komatsu Type 60 recoilless rifles (phát triển dựa trên nguyên mẫu M40 của quân đội Mỹ), súng trung liên 7.62mm Sumitomo MINIMI LMGs và súng đại liên cỡ đạn 12.7mm Sumitomo M2.

JGSDF_Type60_recoilless_gun

Đệ nhất hệ (kiểu Kyū) 1973-1997

Thế hệ đầu tiên của Type 73 dựa trên nguyên mẫu chiếc Jeep CJ-3B mà Mitsubishi Motors đã được cấp phép sản xuất hàng loạt bởi hãng Willys. Nhật Bản đã xuất khẩu Kyu sang các nước đồng minh với Mỹ như Philippine và Nam Việt Nam (quân đội Việt Nam Cộng Hoà) cùng các mẫu xe jeep chủ lực khác như Willys M606 và M38A1. Một số cũng được xuất khẩu sang New Zealand cho nhu cầu dân dụng.

JGSDF_Type73_%28new%29_Kogata_Truck_%2812th_Br.%29JGSDF_Type73_%28new%29_Kogata_Truck_%28MP_vershion%29

Đệ nhị hệ (kiểu Shīn) 1996-ngày nay

Thế hệ thứ 2 của Type 73 Shin dùng để thay thế từ từ kiểu Kyu bắt đầu đi vào sản xuất từ năm 1996. Ban đầu Type 73 mới chỉ được một số đơn vị trong lực lượng phòng vệ Nhật Bản sử dụng với số lượng hạn chế. Type 73 Shin dùng khung sườn của chiếc Mitsubishi Pajero làm nền tảng phát triển.

Type 73 Shin được gửi sang Iraq với nhiệm vụ hỗ trợ tái thiết Iraq – JIRSP – Japanese Iraq Reconstruction and Support Group. Các mẫu xe gửi đi được bọc thép chống đạn nhằm bảo vệ các đơn vị Nhật Bản khỏi các cuộc tấn công bất ngờ của quân du kích Iraq. Các đơn vị JSDF không được phép tham gia bất cứ sứ mạng chiến đấu nào với liên quân thể theo điều thứ 9 của Hiến Pháp Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2.

73 Type Truck_1 73 Type Truck_2 73 Type Truck_3

Đánh giá của Chili Pepper Garage

Chi tiết sắc sảo tuyệt vời! Đẹp dã man con ngan! Mô hình diecast-nhựa mà sắc xảo như mô hình kit. Bánh xe bằng cao su, đèn trước và sau bằng nhựa trong chứ không phải vẽ lên, full kính. Sự kết hợp giữa diecast kim loại và nhựa tinh tế nhất nằm ở tấm mui mềm, các mối nối rất khít và đặc biệt là tạo hình độ dùng, các nếp gấp của mui quá đỉnh, điều này có thể thấy rõ hơn nữa ở chiếc Ford 151 mà tui sẽ post sau :D.

Để rước được ẻm về Chili Pepper Garage, tui phải trải qua mấy trận ‘thư hùng’ tay đôi với các cao thủ ‘núp lùm bắn tỉa’ trên sàn đấu giá gaclung.vn o_O. Mắc hơn một tí so với giá ebay nhưng tui nghĩ vậy cũng đáng, và cảm giác chiến thắng thì thật là khó tả được bằng lời :).

Mitsubishi Galant GTO

Tên đầy đủ của anh chàng cơ bắp châu Á thập niên 70 này là Mitsubishi Colt Galant GTO (Gran Turismo Omologato) lần đầu tiên xuất hiện với tên mã Galant GTX-1 tại Tokyo Motor Show 1969. Chính thức được bán ra trên thị trường tháng 11, 1970, đây chính mẫu xe chủ lực dòng mui cứng của Mitsubishi Heavy Industries thời điểm đó, tiền thân của Colt Galant sedan.

Nói là ‘cơ bắp’, nhưng chàng ta lại rất nhỏ con, thậm chí còn nhỏ hơn cả ‘hậu bối’ Mitsubishi Lancer Evo VII post trong bài trước vốn cũng được coi là ‘nhỏ con’. Ngoại thất của Colt Galant GTO được chấp bút bởi Hiroaki Kamisago, nhà thiết kế được Mitsubishi gửi đi học tại Art Center College of Design tại Pasadena, California. Chính vì thế, dáng dấp của Colt Galant GTO mang nhiều phong cách ảnh hưởng bởi những chiếc xe cơ bắp đương đại của người Mỹ như Mustang, Firebird và Cougar, có thể thấy ngay bởi các chi tiết như: nắp ca-pô dài, đuôi chặt góc và chụp đèn trước và sau hình vuông bo tròn góc. Tại Sài Gòn những năm 80-90, người sành xe thường gọi những mẫu xe Nhật có thiết kế tương tự như xe Mỹ là kiểu ‘đầu chúi, đít chặt’. Colt Galant GTO cũng là chiếc xe đầu tiên của người Nhật có thiết kế kính cửa sổ hông xe cuộn xuống (xoay tay) và không có cột cửa hông.

Bộ phận phát triển xe đua của Mitsubishi còn được biết đến với cái tên Colt Speed đã định đem Colt Galant GTO tới giải đua JCCA Grand Prix danh giá. Thật không may, lệnh cấm vận dầu hoả của khối OPEC năm 1973 có vẻ như đã khai tử các giải đua GP, do đó chương trình đua GTO đành phải gác lại. Tuy nhiên, GTO đã thành công rực rỡ ở thể loại đường trường, bao gồm ở cả giải đua Japanese Alpine Rally.

Colt Galant GTO có 3 mẫu trang bị cấu hình động cơ khác nhau, tất cả đều sử dụng động cơ Saturn: M1 (1600cc SOHC, số 4 cấp), M2 (1600cc SOHC, số 5 cấp) và cấu hình cao cấp nhất MR (1600 cc, chế hoà khí kép, DOHC, số 5 cấp) công suất 125 mã lực chỉ bán ở Nhật.

Đến 1972, Mitsubishi nâng cấp mẫu xe với dòng động cơ Astron (hay 4G5) mới. Dòng xe cũng có các mã mới, LS (2000 cc, chế hoà khí đơn, số tự động), GS (2000 cc, chế hoà khí kép, số tay 5 cấp) và GS-R (2000 cc, chế hoà khí kép, số tay 5 cấp). Các mẫu xe cũng được thay đổi một số chi tiết nhỏ bên ngoài để phân biệt, chẳng hạn như tấm lưới tản nhiệt một mảnh và hoặc 3 mảnh. Thêm vào đó, bản GS-R 125 mã lực có chiều ngang bánh xe rộng hơn, và tấm ốp sơn đen ở cụm đèn sau.

Đến 1974, lưới tản nhiệt dạng tổ ong được thay vào. Chiếc Colt Galant GTO cuối cùng được sản xuất trang bị động cơ Astron 80 với hệ thống Mitsubishi Silent Shaft. Sau một thời gian dài trên dây chuyền sản xuất, GTO cuối cùng đã được thay thế bằng mẫu Galant Lambda/Sapporo vào tháng 12, 1976, mặc dù nó vẫn tiếp được sản xuất đến hết 1977.

Bonus tấm cuối của ‘cậu ấm Sài Gòn’ chụp dưới quảng trường sư tử ở Can-nét, Phú-lang-sa.

NFSRP: Mitsubishi Lancer Evolution VII

Xuất hiện trong Need for Speed: Underground 22 Fast 2 Furious.

The Mitsubishi Lancer Evolution, colloquially known as the Lancer Evo or just Evo,[1] is a high-performance sedan manufactured by Mitsubishi Motors. There have been ten official versions to date, and the designation of each model is most commonly a roman numeral. All use two litre, turbocharged engines and four-wheel drive systems.[2]

The Evolution was originally intended only for Japanese markets, but demand on the “grey import” market led the Evolution series to be offered through Ralliart dealer networks in the United Kingdom and in various European markets from around 1998. Mitsubishi decided to export the eighth generation Evolution to the United States in 2003 after witnessing the success Subaru had in that market with their Impreza WRX, a direct competitor in other global regions.[3] A re-badged version of the car has appeared in Malaysian markets as the Proton PERT, alongside Proton range of modified Lancers under the Proton Wira nameplate.

Japanese-spec cars were limited by a gentlemen’s agreement to advertise no more than 280 PS (206 kW; 276 hp), a mark already reached by Evolution IV. Therefore, each subsequent version has unofficially evolved above the advertised power figures, with the Japanese-spec Evolution IX reaching an alleged output of around 321 PS (236 kW; 317 hp). Various versions available in other markets, particularly the UK, have official power outputs up to 411 PS (302 kW; 405 hp).

The tenth generation of the Lancer Evolution was launched in Japan 2007, and overseas markets in 2008.

In 2001, Mitsubishi was forced by the FIA to race in the WRC using WRC rules for building a car instead of the Group A class rules, and thus did not need to follow homologation rules. The Evolution VII was based on the larger Lancer Cedia platform and as a result gained more weight over the Evolution VI, but Mitsubishi made up for this with multiple important chassis tweaks. The biggest change was the addition of an active center differential and a more effective limited-slip differential, while a front helical limited-slip differential was added. Torque was increased again to 385 N·m (284 lb·ft) with engine tweaks that allowed greater airflow, and horsepower officially remained at 280 PS (206 kW; 276 hp).

The introduction of the Evolution VII also marked the first time an automatic drivetrain was included within the model lineup—the GT-A. Seen as the ‘gentleman’s express’ version of the visually similar VII GSR, the GT-A model was only produced in 2002 and had the following distinguishing interior and exterior specification: GT-A-only diamond cut finish 17-inch (430 mm) alloy wheels, clear rear light lenses and all-in-one style front headlights (later used on the Evolution VIII). The GT-A had the option of either no spoiler, the short spoiler (as later used on the Evolution VIII 260) or the thunderspoiler as used on the standard Evolution VII models. The most distinguishing feature was a smooth bonnet with no air-grills on it at all. Although offering inferior cooling capabilities, the bonnet was designed to give a cleaner line through the air with less air resistance at motorway speeds.

Interior could be specified with factory options of a deluxe velour interior, full leather or the Recaro sports seats. The GT-A interior was different in that it had chromed door handles, a different instrument panel (to show the gear selection) and chrome edged bezels around the speedo and tach. The GT-A also had additional sound deadening installed from the factory and the engine manifold and downpipe had been engineered to be quieter.

The 5-speed automatic gearbox had what Mitsubishi called “fuzzy logic”, which meant that the car would learn what the driver’s driving characteristics were like and would adapt the gear change timings and kick down reactions accordingly. The gears could be manually selected as with most Tiptronics via steering wheel + and – buttons (a pair both sides) or via selecting the tiptronic gate with the gear lever. Power was down a little from the standard manual cars with 264 PS (194 kW; 260 hp). The GT-A gearbox did not appear again in the Evolution VIII but has been installed in the estate version of the Evolution IX Wagon. It was replaced by the Twin Clutch SST gearbox since the introduction of Evolution X.

Khu tui sống

Một pô hình trước khu tui sống. Khu này an ninh cao nên bà con toàn đậu xế ngoài đường thế này mà không sợ bị vặt kính, nạy logo…hí hí.

Chili Pepper Garage vừa đưa về từ cảng Sài Gòn 3 em Mazda RX-8, Mitsubishi Lancer Evolution VII và Alfa Romeo Brera “đã qua sử dụng” và đều tỉ lệ 1:43.