NFSRP: Mitsubishi Lancer Evolution VII

Xuất hiện trong Need for Speed: Underground 22 Fast 2 Furious.

The Mitsubishi Lancer Evolution, colloquially known as the Lancer Evo or just Evo,[1] is a high-performance sedan manufactured by Mitsubishi Motors. There have been ten official versions to date, and the designation of each model is most commonly a roman numeral. All use two litre, turbocharged engines and four-wheel drive systems.[2]

The Evolution was originally intended only for Japanese markets, but demand on the “grey import” market led the Evolution series to be offered through Ralliart dealer networks in the United Kingdom and in various European markets from around 1998. Mitsubishi decided to export the eighth generation Evolution to the United States in 2003 after witnessing the success Subaru had in that market with their Impreza WRX, a direct competitor in other global regions.[3] A re-badged version of the car has appeared in Malaysian markets as the Proton PERT, alongside Proton range of modified Lancers under the Proton Wira nameplate.

Japanese-spec cars were limited by a gentlemen’s agreement to advertise no more than 280 PS (206 kW; 276 hp), a mark already reached by Evolution IV. Therefore, each subsequent version has unofficially evolved above the advertised power figures, with the Japanese-spec Evolution IX reaching an alleged output of around 321 PS (236 kW; 317 hp). Various versions available in other markets, particularly the UK, have official power outputs up to 411 PS (302 kW; 405 hp).

The tenth generation of the Lancer Evolution was launched in Japan 2007, and overseas markets in 2008.

In 2001, Mitsubishi was forced by the FIA to race in the WRC using WRC rules for building a car instead of the Group A class rules, and thus did not need to follow homologation rules. The Evolution VII was based on the larger Lancer Cedia platform and as a result gained more weight over the Evolution VI, but Mitsubishi made up for this with multiple important chassis tweaks. The biggest change was the addition of an active center differential and a more effective limited-slip differential, while a front helical limited-slip differential was added. Torque was increased again to 385 N·m (284 lb·ft) with engine tweaks that allowed greater airflow, and horsepower officially remained at 280 PS (206 kW; 276 hp).

The introduction of the Evolution VII also marked the first time an automatic drivetrain was included within the model lineup—the GT-A. Seen as the ‘gentleman’s express’ version of the visually similar VII GSR, the GT-A model was only produced in 2002 and had the following distinguishing interior and exterior specification: GT-A-only diamond cut finish 17-inch (430 mm) alloy wheels, clear rear light lenses and all-in-one style front headlights (later used on the Evolution VIII). The GT-A had the option of either no spoiler, the short spoiler (as later used on the Evolution VIII 260) or the thunderspoiler as used on the standard Evolution VII models. The most distinguishing feature was a smooth bonnet with no air-grills on it at all. Although offering inferior cooling capabilities, the bonnet was designed to give a cleaner line through the air with less air resistance at motorway speeds.

Interior could be specified with factory options of a deluxe velour interior, full leather or the Recaro sports seats. The GT-A interior was different in that it had chromed door handles, a different instrument panel (to show the gear selection) and chrome edged bezels around the speedo and tach. The GT-A also had additional sound deadening installed from the factory and the engine manifold and downpipe had been engineered to be quieter.

The 5-speed automatic gearbox had what Mitsubishi called “fuzzy logic”, which meant that the car would learn what the driver’s driving characteristics were like and would adapt the gear change timings and kick down reactions accordingly. The gears could be manually selected as with most Tiptronics via steering wheel + and – buttons (a pair both sides) or via selecting the tiptronic gate with the gear lever. Power was down a little from the standard manual cars with 264 PS (194 kW; 260 hp). The GT-A gearbox did not appear again in the Evolution VIII but has been installed in the estate version of the Evolution IX Wagon. It was replaced by the Twin Clutch SST gearbox since the introduction of Evolution X.

NFSRP: Alfa Romeo Brera

Alfa Romeo Brera là chiếc thể thao Sportback của nhà Alfa Romeo Ý sản xuất trong khoảng 2005 đến 2010. Anh em với Brera là chiếc Spider roaster được sản xuất trong khoảng 2006 đến 2010. Cả hai chiếc đều được sản xuất tại nhà máy của Pininfarina. Chỉ có 12.488 chiếc Spider và 21.786 chiếc Brera được ra đời. Hai mẫu xe này đã chính thức ngừng sản xuất từ tháng 11-2010, tuy nhiên phụ tùng cho chúng vẫn được tiếp tục sản xuất đến 2011. Một mẫu xe mới được đồn đại là ‘truyền nhân’ của hai ‘tiền bối’ sẽ ra mắt vào năm 2014 sắp tới.

Brera xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng khi còn là mẫu xe concept tại Geneva Motor Show 2002. Đích thân người sáng lập studio thiết kế  Italdesign Giugiaro là Giorgetto Giugiaro chấp bút cho những bản vẽ đầu tiên. Phiên bản concept trang bị động cơ Maserati V8, công suất 390 mã lực. Kế hoạch sản xuất Alfa Romeo Brera được công bố rộng rãi ở Geneve Motor Show 2005.

Động cơ

Tại Châu âu, Brera có hai tuỳ chọn động cơ phun xăng trực tiếp áp suất cao: 2.2 lít JTS, 182 mã lực và V6 3.2 lít, 260 mã lực. Ngoài ra còn có tuỳ chọn dùng động cơ diesel 2.4 lít JTD turbodiesel, công suất 210 mã lực. Các mẫu xe dùng động cơ xăng 2.2 lít hay dầu diesel đều dẫn động bánh trước, trong khi các mẫu dùng động cơ V6 dùng hệ thống dẫn động 4 bánh Torsen four-wheel drive tương tự như trên chiếc Alfa Romeo 156 và Alfa Romeo 159 Q4. Brera mất 6,8 giây để tăng tốc từ 0 lên 100 km/h.

Điểm đặc biệt là cửa sổ trời của Brera mở theo 3 giai đoạn và kéo dài hết hàng ghế ngồi sau giúp người lái có thể tùy chọn mức độ ánh sáng trong cabin. Ngoài ra, Alfa Romeo Brera được trang bị hệ thống an toàn trong đó có hệ thống hỗ trợ xuất phát từ chân dốc (HHS), hệ thống chống cháy khi lật xe (FPS) cùng 6 túi khí an toàn.

Giá một chiếc Alfa Romeo Brera về đến Việt Nam lên tới 2,2 tỉ.

NFSRP: Mazda RX-8

Xuất hiện trong NFS: Underground 2, UndercoverFast & Furious: Tokyo Drift (iOS version)

Mazda RX-8 là một chiếc coupé thể thao ‘bé hạt tiêu’ của Mazda Motor Corporation, là ‘kẻ kế thừa’ vương triều của huyền thoại Mazda RX-7, nổi tiếng với động cơ trục quay Wankel mạnh mẽ (rotary engine). RX-8 được chính thức bán tại thị trường Bắc Mỹ từ năm 2004.

Khủng hoảng và hồi sinh

Cho đến ngày 23 tháng 8, 2011, Mazda đã chính thức tuyên bố sẽ ngừng sản xuất mẫu RX-8 trên toàn cầu. Trước đó một năm là 2010, RX-8 đã ngừng bán vì không vượt qua được tiêu chuẩn khí thải khắt khe ở châu lục này. Chính vì gặp khó khăn ở Châu Âu và đồng Yên Nhật tăng giá, Mazda đã không thể tiếp tục duy trì doanh số bán ở các thị trường khác, bao gồm cả Bắc Mỹ.

Mazda giới thiệu những mẫu xe hơi trang bị động cơ trục quay tại Mỹ năm 1971, khởi đầu với các mẫu RX-2, RX-3, RX-4, RX-5 và cuối cùng là ba thế hệ của chiếc thể thao RX-7. Tuy nhiên, sự thiếu tiện nghi và bất tiện cho người lái cộng với mức giá cao và thoái trào của xe thể thao và coupé lúc đó đã rút RX-7 ra khỏi hầu hết các thị trường lớn, ngoại trừ ở Nhật. Sau năm 1995, Mazda một lần nữa chật vật với dây chuyền sản xuất ở Mỹ để cứu lấy mẫu MX-5 Miata. Xu hướng ưa chuộng các xe nhập khẩu và xe công suất cao tại Mỹ đã trở lại vào cuối thập niên 90, cùng với tác động ảnh hưởng tích cực về văn hóa như trường hợp của dòng game Gran Turismo trên Sony PlayStation, các nhà sản xuất xe hơi Nhật đã quay trờ lại thị trường xe hơi béo bở này.

Thêm vào đó, Mazda nỗ lực để vực dậy chính mình, được sự giúp đỡ về tài chính và quản lý từ Ford và thành công trong việc phát triển dòng xe mới chất lượng cao cả về hình thức lẫn khả năng vận hành cực tốt. Bắt đầu với mẫu Mazda 6 sau đó là Mazda 3 tạo tiền đề cho các thế hệ xe hơi trang bị động cơ trục xoay thể thao sau này.

Động cơ Wankel và hệ thống treo đặc biệt

Động cơ trục xoay Wankel được phát minh bởi kỹ sư người Đức Felix Wankel (đọc là Van-ken). Ông được cấp bằng sáng chế năm 1929, động cơ bắt đầu được nghiên cứu và phát triển từ đầu những năm 50 ở NSU – NSU Motorenwerke AG tiền thân của Audi sau này sau khi sát nhập vào Volkswagen Group năm 1969. NSU đã bán bản quyền concept động cơ cho các công ty khác trên khắp thế giới để cùng đẩy mạnh phát triển các thiết kế ban đầu. Mazda là một trong số các hãng sản xuất xe hơi cũng như nhà phát triển hiếm hoi hiện nay sử dụng công nghệ động cơ Wankel.

Động cơ Wankel có cấu trúc và cách vận hành phức tạp hơn nhiều so với các động cơ đốt trong khác. Hình dạng pít-tông hình tam giác đặc trưng cũng như buồng đốt đa khối đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối trong cân chỉnh và gia công. Động cơ Wankel cũng thải ra nhiều khí thải và tiêu tốn nhiều nhiên liệu hơn các loại động cơ truyền thống khác, nhưng bù lại, công suất do nó tạo ra lớn hơn nhiều so với các loại động cơ khác cùng dung tích máy. Chiếc RX-8 chỉ trang bị động cơ Wankel 1.3 lít nhưng công suất tối đa lại đạt được tới 239 mã lực! Đúng là nhỏ mà có võ!

Link cho bạn nào thích tìm hiểu về động cơ Wankel @ YouTube

RX-8 được thiết kế vị trí đặt khối máy nằm giữa-trước, dẫn động bánh sau, 4 chỗ, coupé 4 cửa. Tỉ số phân bố lực trước và sau là 50:50, một con số cân bằng trọng tâm lý tưởng, đề đạt được tỉ số này, Mazda đã gắn máy ở trục trước và bình xăng ở trục sau. Cấu trúc bánh lái trước được giữ nguyên với hệ treo (nhún\giảm chấn) xương cá kép độc lập, trong khi hệ treo sau dùng cấu trúc liên kết đa điểm độc lập. Trọng lượng xe được cắt giảm nhờ sử dụng các vật liệu nhẹ như nhôm và nhựa để chế tạo các tấm ốp thân xe. Toàn bộ thân xe được phủ bằng vỏ thép cán mỏng trong khi cản trước và cản sau làm từ nhựa kỹ thuật chịu va đập vật lý.

Phiên bản RX-8 trang bị hộp số tay sử dụng thanh truyền động bằng sợi composite siêu bền để giảm thiểu lực vặn xoắn (quán tính) khi kết nối bánh sau với động cơ đặt phía trước. Năng lượng được truyền tới trục sau nhờ bộ vi sai trượt giới hạn Torsen nhằm tăng tính cơ động khi vận hành. Các thiết kế kỹ thuật thông minh và hệ thống treo được tinh chỉnh đặc biệt của các kỹ sư Mazda đã mang lại cho RX-8 khả năng vận hành xuất sắc, được tán dương nhiệt liệt và gặt hái hàng loạt giải thưởng quốc tế danh giá. Điều đó minh chứng cho giá trị tinh thần cầu tiến, đầy nhiệt huyết, quyết tâm của các nhà sản xuất và kỹ sư Nhật Bản.