Vườn bách thảo Tiêu Ớt Tơn

dân cư Tiêu Ớt Tơn vốn là những người yêu cây cỏ, hoa lá, thích sống chan hoà giữa thiên nhiên. vườn bách thảo Tiêu Ớt Tơn ngay từ thuở hồng hoang đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trấn – đó là một nhà máy sinh học khổng lồ bền vững, lọc sạch không khí ô nhiễm và sản xuất khí oxy cung cấp cho mọi người.

vườn bách thảo Tiêu Ớt Tơn hiện có 9 loài cây, toàn bộ đều là các loài cây có khả năng lọc chất độc ‘dzách lầu’ trong thế giới thực vật :P. Hương thảo, ngũ gia bì, trầu bà Thái, lưỡi hổ, thịnh vượng, lan hạt dưa…và một loại đặc biệt dùng làm đồ nhắm cho 3 cô thợ bốn chân lông lá: Catnip – aka ‘cần sa mèo’ – tác dụng tương tự cần sa của người, khác tí là nhai trực tiếp chứ không cần đốt :v.

Stridsvagn 103B – Swedish main battle tank

Stridsvagn 103 là xe tăng chủ lực của Quân đội Thụy Điển do hãng Bopho chế tạo (“Stridsvagn” được dịch sao phỏng từ tiếng Đức ‘kampfwagen‘, nghĩa là ‘phương tiện chiến đấu‘), tên gọi không chính thức là S-tank. S-tank nổi bật với thiết kế không tháp pháo, độ cao của xe được hạ tới mức tối đa, nhưng điều này lại trở thành điểm bất tiện nhất của loại tăng này, thiếu tính cơ động trong tác xạ. S-tank được đưa vào biên chế quân đội Thuỵ Điển trong những năm 60 và trở thành xương sống của lục quân nước này cho đến những năm 90, sau đó bị thải hồi và thay thế bởi những chiếc Leopard 2 hiện đại hơn.

Được đưa vào sản xuất hàng loạt từ năm 1966 với tên gọi Stridsvagn 103A. Mẫu tiêu chuẩn Stridsvagn 103B xuất hiện năm 1971 có lắp lưỡi gạt và thiết bị giữ nổi dạng khung bọc tấm mềm cố định trên xe khi bơi vượt chướng ngại nước. Tổng số Stridsvagn 103 được sản xuất là 290 chiếc. Khối lượng chiến đấu 39,7 tấn,kíp xe gồm 3 người (chỉ huy,lái xe và pháo thủ). Stridsvagn 103 có tổng chiều dài là 8,99m (pháo phía trước),rộng 3,63 m,cao 2,14m (đến nóc tháp trưởng xe). Khoảng sáng gầm xe 0,5m. Xe không có tháp pháo.

Stridsvagn 103 được lắp đặt một pháo rãnh xoắn 105mm L74 lắp cố định với thân xe (có trang bị một máy nạp đạn tự động), một súng đại liên đồng trục 7,62mm, một súng đại liên phòng không 12,7mm và tám ống phóng lựu đạn khói ngụy trang. Hướng tháp pháo thay đổi từ +12 đến -10 độ bằng cách quay xe. Góc tầm pháo thay đổi bằng cách nhờ hệ thống treo điều chỉnh làm thay đổi góc thân xe so với mặt phẳng ngang.

Động cơ chính diezen 2 kì đa nhiên liệu kiểu K60, công suất 175,2kW(240cv); động cơ dự phòng tuabin khí Boeng 553 công suất 358kW (490cv).Vận tốc nhanh nhất là 50km/h,vận tốc bơi nhanh nhất là 6km/h. Thời gian lắp thiết bị giữ nổi lên thân xe mất từ 15 đến 20 phút. Vượt dốc cao 31 độ, vách đứng 0,9m, hào rộng 2,3m. Hộp số thủy cơ tự động, có 3 số tiến,1 số lùi, hệ thống treo thủy khí tự động điều chỉnh, có thể hạ thấp thân xe và thay đổi góc tầm pháo.

Từ năm 1984, Bopho đã chế tạo thành công phiên bản Stridsvagn 103 mới mang ký hiệu là Stridsvagn 103C, phiên bản mới này được lắp một động cơ diezen 6V-53T công suất 212,5kW (290cv) thay cho K60, hệ thống truyền lực tự động, máy đo xa laze và hệ thống thông tin hiện đại.

Đánh giá của Chili Pepper P.A.N.D.O.R.A

Tui không tận tay ráp em tăng Thuỵ Điển này mà nhập nguyên chiếc từ một bạn nick reddragon911 trong mohinhtinh.com (bạn này rất mê các loại tank ^^). Các mối ráp và đi keo nhìn chung đẹp và gọn. Để giữ nguyên bản công trình của chủ nhân, tui cũng không muốn đụng chạm dao kéo quá nhiều, cũng không dám tương sơn lên, nên cuối cùng chọn cách đi lằn chìm/washing nhẹ nhẹ như kiểu hay làm trên mấy chiếc tiêm kích.

Em Stridsvagn 103B này tui thấy ở khu quân cảng xuất nhập khẩu vũ khí Sao Đỏ một lần (oách chưa :D) và cực kì ấn tượng với thiết kế ‘like.no.other’ của ẻm. Thoạt trông cứ như một thiết giáp xa trong phim khoa học viễn tưởng Star War o_O. Chiếc này hình như vẫn còn thiếu 2 bình xăng hình thang, gắn vào còn trông ngầu hơn nữa. Thật khó tin khi biết rằng chiếc S-tank này được thiết kế bởi người Thuỵ Điển từ những năm 50 của thế kỷ trước 0_O’. Hiện tại, biên chế lục quân của P.A.N.D.O.R.A có 4 tăng chủ lực và 1 xe rocket phóng loạt tự hành bánh xích hạng nặng. Dự định trong tương lai P.A.N.D.O.R.A đã có kế hoạch tiếp tục nhập khẩu và nâng cấp các khí tài mặt đất cho tương xứng với lực lượng không quân đang áp đảo (7 tiêm kích đánh chặn/đa năng/ném bom, 3 cường kích không yểm).

T-80BV + ERA – Russian main battle tank

T-80 là xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT- Main Battle Tank) được sản xuất tại Liên Xô và được đưa vào sử dụng năm 1976. Nó là một bản nâng cấp của T-64, nhưng trái với T-64, T-80 được sản xuất với số lượng lớn hơn và được xuất khẩu , vì vậy nó xuất hiện ở nhiều quốc gia ngoài Liên Xô: đảo SípPakistanHàn QuốcTrung Quốc. 320 chiếc T-80UD đã được Pakistan đặt hàng từ Ukraina, và đang được chuyển giao. Tháng 8 năm 2002, có thông báo rằng Hàn Quốc đang mua một số tăng T-80 từ Nga. Nga từng có kế hoạch bán một lô hàng khoảng 150 xe tăng T-80B cho Việt Nam nhưng không thành do ngân sách quốc phòng của Việt Nam không đáp ứng nổi. Chỉ huy nhóm thiết kế là kỹ sư Liên Xô Nikolay Popov.

Hệ thống vũ khí

T-80 cũng được trang bị 6 tên lửa có điều khiển chống tăng: T-80B dùng hỏa tiễn chống tăng 9119 Korba (NATO gọi là AT-8 Songster) của T-64, T-80U thì dùng 9M119 Svir (AT-11 Sniper), 9M119M (AT-11B Refleks).Tầm hoạt động của tên lửa từ 100 đến 4.000m. Hệ thống được thiết kế để chống lại các xe tăng có trang bị ERA (Lớp bảo vệ nổ phản ứng) cũng như các mục tiêu bay thấp như máy bay trực thăng, trong phạm vi lên đến 5km. Hệ thống tên lửa bắn ra cả hai loại tên lửa 9M119 hay 9M119M, có hướng dẫn bán tự động bằng chùm laser.

T-80 sử dụng các phiên bản của khẩu pháo chính 125 ly nòng trơn 2A46 cùng với một hệ thống nạp đạn tự động (giống như “mốt” của dòng họ T trong nửa cuối thế kỷ 20) với ống bọc cách nhiệt bên ngoài, có thể bắn từ 6 đến 8 viên/phút. Nạp đạn thuỷ cơ học với băng đạn 28 viên. Trong xe có 45 viên đạn. Súng chính bắn đạn liều rời đặt trong vỏ chống bắt lửa. Đạn có thể là AP (Armour Piercing), APDS (Armour Piercing Discarding Sabot), HEAT (High Explosive Anti-Tank) và HE-FRAG (High Explosive-Fragmentation). T-80UD của Ukraina cũng trang bị khẩu 125 ly, nhưng kiểu KBA3.

Ngoài pháo chính, T-80 được trang bị một đại liên đồng trục PKT 7,62 ly và đại liên phòng không Utes (NVST-12.7) 12,7 ly điều khiển từ trong buồng của xa trưởng.

Tính cơ động và tốc độ

Như đã nói, T-80 được trang bị động cơ tuốc bin khí, nên công suất của nó thuộc loại cực cao của quân đội Liên Xô. Ban đầu là GT-1000T 1000 mã lực, sau đó tăng dần đến đỉnh điểm là GTD-1250 1250 mã lực của T-80U (chú ý là động cơ T-72 và T-90 hiện đại nhất chỉ là 1100 mã lực). Xung lực của T-80 có thể lên tới 26,5 mã lực/tấn (T-90 là 24 mã lực/tấn). GTD-1250 là động cơ ba trục với hai tầng nén khí. Có một động cơ GTA-18 phụ trợ độc lập khác dùng khi xe tăng đứng yên.

Vì vậy không ngạc nhiên khi T-80 cực kỳ cơ động (vận tốc tối đa 70km/h, trong khi T-90 là 65km/h). Nó chia sẻ danh hiệu “xe tăng bay” của xe tăng Leopard 2. Tất nhiên một số xe tăng phương Tây cũng dùng động cơ tuốc bin khí (M1 Abrams có công suất 1500 mã lực) nhưng kích thước và khối lượng của T-80 nhỏ hơn (nặng nhất là 50 tấn, còn M1 Abrams mi-nhon nhất là 61 tấn với kích thước gấp đôi) nên T-80 vẫn “bay” tốt hơn.

Hơn nữa, động cơ của T-80 có thể sử dụng nhiều loại nhiên liệu: từ xăng dùng cho động cơ phản lực đến xăng có chỉ số octane thấp, cho dầu diesel cũng chạy tốt. Động cơ cũng hoạt động khá ổn định, tuổi thọ cao, và GTD-1250 thì có thêm hệ thống tự loại bỏ bụi bẩn.

Có điều, công suất nào xăng nấy, động cơ tuốc bin khí ngốn quá nhiều nhiên liệu, ngay cả lúc xe đứng yên nó cũng “ăn” nhiên liệu dữ dội, nên phía Ukraine đã phát triển các bản T-80 và T-84 dùng động cơ diesel công suất thấp hơn một chút nhưng hiệu suất cao hơn, ít hao nhiên liệu. Nói chung T-80 của Ukraine vẫn giữ được danh hiệu “xe tăng bay” của dòng họ mình.

Để phù hợp với động cơ mới, T-80 có một hệ thống truyền lực kiểu hành tinh với hệ thống dẫn nước phụ (hydraulic servo-system) để tăng tính cơ động. Xích và hệ thống treo được trang bị kiểu xích RMSh và các bánh xe cao su để chạy trên đường, các lò xo treo giảm xóc có hai tầng giảm chấn chất lỏng lồng vào nhau.

Source: Wikipedia vietnamese

Giáp trụ và hệ thống bảo vệ

Kế tục T-64, T-80 cũng dùng giáp composite. Composite T-80 dày hơn, có các lớp thép đúc + sợi thủy tinh và lớp thép đúc + phi kim, có thể chống đạn 120 ly. T-80B dùng giáp composite K với lớp gốm. T-80 U có váy bảo vệ với những tấm cao su chống mìn. Váy trước bọc giáp và dùng vỏ bọc hút sóng radar. Có 5 ống phóng lựu đạn khói nằm ở bên phải tháp pháo và 7 cái bên trái. T-80BV và T-80VK có thêm hệ thống hỗn hợp bảo vệ nổ phản ứng (gạch ERA) Kontakt-1, còn T-80U dùng Kontakt-5. UK, UE, UM dùng hệ thống bảo vệ Shtora. T-80UM1, UM2 trang bị hệ thống phòng thủ chủ động ARENA và Drozd.

Nói chung là giáp trụ của T-80 rất chắc chắn, đúng như trường phái tăng Liên Xô hiện đại. Việc này là nhờ vào kích cỡ thon gọn và dung tích tối ưu (đặc trưng của xe tăng T). Mặc dù to và nặng hơn T-72, T-90 khá nhiều nhưng so với xe tăng phương Tây và Mĩ như M1 Abrams, Leopard 2, Challenger,… thì T-80 vẫn rất “mi nhon”. Nhờ đó mà diện tích bề mặt cần bọc giáp nhỏ, nên mật độ giáp rất cao, lượng nguyên liệu cần dùng giảm, khối lượng xe tăng giảm đáng kể. Giống T-64, T-80 to hơn T-72 để cho khoang lái rộng, tổ lái được thoải mái, vì thế nó cũng nặng hơn.

Cũng như xe tăng Liên Xô, hòm đạn được đặt ở nơi an toàn nhất: trong khoang lái, dưới tổ lái, nằm trong ổ quay đạn. Bản thân ổ quay đạn cũng ở vị trí an toàn. Tuy nhiên, việc này lại gây nguy hiểm tính mạng cho tổ lái: khi hòm đạn bị bắn nổ thì mảnh đạn sẽ văng trúng binh sĩ gây thương vong, thậm chí còn hất tung tháp pháo lên trời. Viên đạn nằm ngoài thiết bị nạp cũng nguy hiểm: tổ lái hầu như không được bảo vệ khỏi những mảnh kim loại nóng phừng phừng khi chỗ nạp đạn bị bắn nổ, nhất là khi dùng vỏ đạn bằng chất bán cháy thay vì dùng đồng. Vì vậy thường người ta chỉ cho phép mang 28 viên đạn trong 1 xe (dù chứa được tới 40-45 viên), mặc dù điều này khiến T-80 tác chiến bất lợi hơn trong những nhiệm vụ có cường độ cao. Nhưng một số mẫu T-80UD của Uy Kiên dùng tháp pháo kiểu Phương Tây nên không có nhược điểm này.

T-80 cũng được bảo vệ các thanh vỏ giáp kiểu yếm xung quanh. Các biện pháp đối phó khác còn gồm chế độ chạy ít tiếng ồn và động cơ tuốc bin khí chạy nhiên liệu không khói, hệ thống cách nhiệt bên trên và bên dưới đã được cải tiến, thông gió cho hệ thống truyền động động cơ, hệ thống làm mát, hệ thống phun khói và quạt khói.

Merkava Mk.II

Merkava – tiếng Do Thái/Israel nghĩa là ‘thiết kị’ tiếng Anh là ‘chariot’ vốn dĩ đã trờ thành một huyền thoại, một tượng đài trong nghành công nghiệp chế tạo tăng thiết giáp của Israel nói riêng và thế giới nói chung.

Được phát triển tử 1973, đến nay series tăng chủ lực Merkava của quân đội Israel (Israel Defence Force – IDF) đã có 4 phiên bản. Phiên bản hiện đại nhất là Merkava Mk.IV trang bị những công nghệ chế tạo tăng thiết giáp hiện đại nhất thế giới. Merkava được sử dụng rộng rãi lần đầu tiên vào năm 1982 trong cuộc xung đột với Lebanon (hay còn gọi là chiến tranh Lebanon lần thứ nhất). Cái tên Merkava vốn là tên chương trình phát triển tăng chủ lực cho quân đội Israel được giữ lại để đặt tên chíng thức cho dòng tăng này.

Merkava được phát triển với tiêu chí dễ dàng sửa chữa ngay trên chiến trường, tăng cường khả năng sống sót của kíp xe, giá thành vừa phải và khả năng chạy trên nhiều loại địa hình. Dựa theo thiết kế của các loại pháo tự hành hiện đại, Merkava đẩy tháp pháo lùi về phía sau, gần hơn với đuôi xe so với các mẫu tăng khác. Điều này giúp tăng cường khả năng phòng thủ/tổn thương khi bị tấn công từ mặt trước. Thiết kế này cũng giúp tăng thể tích chứa ở khoang sau và giúp bố trí một cửa thoát hiểm dạng vỏ sò (clam-shell) khẩn cấp cho kíp xe. Nhờ đó khi cần thiết Merkava cũng có thể biến thành xe tải thương, chuyển quân, trạm điều khiển…khi cần thiết.

Merkava IV bắt đầu phát triển từ năm 1999 và đi vào phục vụ IDF vào 2003. Merkava IV được tuyên bố là có những cải tiến lớn về thiết kế, độ an toàn cũng như tăng cường khả năng tác chiến. Không phải chờ đợi lâu, tuyên bố đã được chứng minh một cách hùng hồn qua cuộc xung đột/chiến tranh Lebanon lần thứ 2 xẩy ra chớp nhoáng vào năm 2006. Trong cuộc chiến chỉ diễn ra 34 ngày này, IDF đã huy động một số lượng tăng chủ lực rất lớn gồm tất cả các phiên bản Merkava tấn công vào Lebanon tìm diệt các phần tử của phe Hezbollah  (hay Li-băng). Theo thống kê của IDF sau cuộc chiến, 56 chiếc Merkava bị tấn công chủ yếu bởi tên lửa vác vai do Nga sản xuất và mìn. 22 chiếc bị tên lửa xuyên thủng giáp, 5 chiếc bị tiêu diệt hoàn toàn, phần lớn là Merkava II và III. Chỉ có 5 chiếc Merkava IV bị tên lửa xuyên thủng, 2 trong số đó đã được sửa chữa và quay trở lại tiếp tục phục vụ.

Chiếc Merkava tại Chili Pepper Garage là phiên bản Merkava Mk.II đã được hiện đại hoá sâu so với Mark II nguyên bản. Nhập nguyên chiếc từ Israel theo hợp đồng thanh lý các xe tăng Merkava Mk.2 của IDF. Trang bị gồm một pháo 105 ly, 2 đại liên 7.62 ly diệt bộ binh và một cối 60 ly, khai hoả từ trong tháp pháo. Hệ thống hoả điểm được nâng cấp cùng giáp composite dạng tấm tăng cường cho tháp pháo có thể thay ngay trên chiến trường.

Source: Wiki + một số sites khác + tự nặn ra :P