Renault Mégane Trophy/Mégane RS

meganetrophy_cover

Renault Mégane RS hay Mégane Renault Sport là dòng xe thể thao hatchback được sản xuất từ năm 2004 dựa trên nguyên bản chiếc Renault Mégane.

Chính xác hơn Mégane RS dựa trên thiết kế của chiếc xe hơi compact dành cho gia đình Renault Mégane II.

Mégane RS có 2 phiên bản: 3 cửa và 5 cửa dạng hatchback, cả 2 đều trang bị cùng loại động cơ sản xuất ở nhà máy Renault’s Dieppe, nơi mà hầu hết tất cả những mẫu xe đua đặc biệt của nhà Renault chào đời chẳng hạn như Clio V6, 5 Turbo, Spyder và Alpine A610 / A110. Mégane RS 225 trang bị trục giảm chấn kép với trục lái độc lập bánh trước tích hợp công nghê đánh lái điện giúp nâng cao tốc độ.

Động cơ và

Chiếc RS được trang bị động cơ bơm xăng tăng áp turbo (turbocharged) 2.0 lít sản sinh công suất 222 mã lực (165 kW; 222 bhp) cho phép chiếc xe chỉ mất 6.15s để tăng tốc từ 0-100km/h, tốc độ cao nhất là 240 km/h. 90%

The Mégane RS is available in three-door and five-door hatchback versions, both with the same engine and it is built in Renault’s Dieppe factory, which is where most of their special and race cars are made (like the Clio V6, 5 Turbo, Spyder and Alpine A610 / A110). The Mégane Renault Sport 225 uses double-axis strut suspension with independent steering axis at the front, with electric power steering that reduces its influence as speeds increase.

[edit]Engine and performance

The RS uses a turbocharged 2.0-litre petrol engine that produces 225 PS (165 kW; 222 bhp), allowing the car to achieve 0–100 km/h in 6.15 s (0-60 mph in 6.0 s), with a top speed of about 240 km/h (149 mph). Ninety percent of the engine’s torque is available from 2000 rpm until redline. A twin-scroll turbo minimizes turbo lag, especially when throttle is applied at over 2000 rpm. The transmission is a six-speed manual. Renault’s claimed combined economy is 8.8 L/100 km (32 mpg-imp; 27 mpg-US), and real-world highway driving is approximately 7.0 L/100 km (40 mpg-imp; 34 mpg-US).

In a 2004 road test by Mexican car magazine Automóvil Panamericano, the car was proven to reach 247 bhp (184 kW; 250 PS) from its powerplant.

[edit]Equipment

The Mégane Renault Sport has a speed-limiter, which prevents the car from passing a user-determined speed. It can be disabled or recalled with a button-press, and is set in the same way as the cruise control.

The Mégane RS is equipped with leather/cloth seats, seat belts with red stitching, 17-inch alloy wheels, eight airbags and xenon headlights with headlight washers. It also has Brembo brake discs. The base Mégane Sport has Brembos on the front only, the F1 has them on all four wheels.

Other features include automatic double optic headlights, 17-inch alloy wheels, air conditioning, ABS with EBD, electronic stability control.

Lux models add metallic paint, hands free Renault card, electronic folding mirrors, tire pressure monitor, electronic front and rear windows, climate control, leather upholstery, 4x15W RDS radio with CD-MP3 player and 6 speakers, front carpet mats, electronic rear view mirror, rear spoiler (petrol engine models only), 18-inch alloy wheels over base model.

All vehicles include 6-speed transmission.

[edit]Renaultsport 225 (2004-)

It includes a 2.0L turbo engine rated 225 PS (165 kW; 222 bhp) at 5500 rpm and 300 N·m (220 lb·ft) at 3000 rpm.

Cup Chassis option includes tire pressure monitor deletion, 18-inch anthracite alloy wheels with 235/40R18 Dunlop SP Sport Maxx tyres, retuned dampers and spring rates, disconnectable ESP, anthracite coloured door mirror housings.

Sport Hatch version include Recaro front seats, and the vehicle is 20 kg (44 lb) lighter (1345 kg kerb, 1,800 kg (3,968 lb) gross).

[edit]Renaultsport 225 Cup (2005-)

It includes the Cup Chassis option, which adds drilled brake discs, Brembo front and rear red brake calipers and increased brake master cylinder diameter, revised stiffened steering. Other features include carbon grey upholstery with silver stitching.

The car is 10 kg (22 lb) lighter than 225 Sport Hatch (1335 kg kerb, 1,790 kg (3,946 lb) gross).

The handling improvement were made to regular Mégane for beginning in late 2005.[1]

[edit]Renaultsport 230 Renault F1 Team R26 (2006-)

It is a version that commemorate the continuous success of Renault in the Formula 1 World Championship with the 2005 Constructors’ and Drivers’ Championship titles.

Engine is rated 230 PS (169 kW; 227 bhp) at 5500 rpm and 310 N·m (230 lb·ft) at 3000 rpm. It incorporates the improved version of Cup Chassis package, which includes 18-inch Anthracite spoked alloy wheels with Michelin Pilot Sport 2 235/40 R18 tires, Brembo front and rear red brake calipers and increased brake master cylinder diameter, revised stiffened steering. Other features include sport exhaust, Recaro seats, climate control, 4×15-watt RDS radio single CD/MP3 player with 6 speakers, Renault F1 decals, numbered plaque, limited slip differential, rear spoiler.

The vehicle weights 1,355 kg (2,987 lb) kerb, 1,820 kg (4,012 lb) gross.

[edit]Renaultsport dCi 175 (2007-)

It is a version with 2.0L (1995 cc) diesel engine. Engine is rated 173 PS (127 kW; 171 bhp) at 3750 rpm and 360 N·m (270 lb·ft) at 2000 rpm.

Cup Chassis option (available for dCi 175 Lux) includes tire pressure monitor deletion, 18-inch anthracite alloy wheels with 225/45R18 Continental SportContact 2 tires, retuned dampers and spring rates, disconnectable ESP, anthracite coloured door mirror housings.

Sport Hatch version include Recaro front seats, and the vehicle is 20 kg (44 lb) lighter (1470 kg kerb, 1,875 kg (4,134 lb) gross).

[edit]Renaultsport 230 Renault F1 Team R26.R (2009-)

R26.R

It is based on Mégane Renaultsport 230 F1 Team R26, but it is 123 kg (271 lb) lighter. Weight reduction is achieved via removal of rear seats and seat belts, passenger airbag and curtain airbags (the driver’s airbag remains), climate control (air conditioning remains as standard), rear wash/wipe and heated rear window, front fog lamps, headlamp washers, radio/CD player, most of the soundproofing.

Other features include carbon fibre bonnet, polycarbonate tailgate and rear side windows, Sabelt seats with carbon fibre shell and aluminium base, 6-point harnesses, rear spoiler, optional roll cage, optional titanium exhaust.

New parts include new front springs (14 mm/100 kg), new rear springs (16.2 mm/100 kg), recalibrated shock absorber settings, grooved brake discs, new alloy wheels are fitted with a different offset increasing the track by 4 mm (0.2 in), optional Toyo Proxes R888 225/40R18 tyres (Michelin Pilot Sport 2 235/40R18 standard), stiffer lower arm bushes.

450 vehicles were made with 230 for the UK market. The car went on sale in October 2008 for £22,990. The car was unveiled in 2008 British International Motor Show.[2]

meganetrophy_1meganetrophy_2meganetrophy_3meganetrophy_5meganetrophy_topmeganetrophy_4meganetrophy_6meganetrophy_7meganetrophy_enginemeganetrophy_engine close

Volkswagen Goft 1997

Volkswagen Golf là một trong những chiếc xe gia đình hạng nhỏ nổi tiếng khắp thế giới từ năm 1974 của Volkswagen vốn đã trải qua 6 thế hệ với nhiều phiên bản ‘cải biên’ và dưới nhiều cái tên khác nhau. Volkswagen Golf ở Mỹ và Canada có tên Volkswagen Rabbit (Mk1 và Mk5 trong khi ở Mexico nó lại được gọi là Volkswagen Caribe (Mk1).

Chiếc Golf dẫn động bánh trước đầu tiên đã rất thành công khi đóng vai trò thay thế cho chiếc Volkswagen Beetle làm mát bằng gió tự nhiên. Có thể nói Golf là chiếc xe huyền thoại của Volkswagen với hơn 25 triệu chiếc được sản xuất trên toàn cầu tính đến 2007, và là mẫu xe bán chạy nhất của hãng và đứng thứ 3 thế giới các mẫu xe bán chạy nhất.

Hầu hết các phiên bản sản xuất của Golf đều có thiết kế hatchback 3 cửa. Một số biến thể khác bao gồm bản hatchback 5 cửa (chiếc Chili Pepper Garage đang sở hữu), estate/wagon – xe hòm dài (chiếc Variant từ 1993), mui xếp (CabrioletCabrio, 1979-2002) và phiên bản Golf chở khách sedan/saloon mang nhiều tên như Volkswagen Jetta, Vento hoặc Bora (từ 1979). Golf đã có mặt ở khắp các phân khúc xe khác nhau, từ dòng xe cá nhân cơ bản đến các dòng xe thể thao hiệu suất cao.

Tất cả các thế hệ của chiếc Golf đều đoạt giải nhì trong các cuộc đua bình chọn Xe Châu Âu của năm qua các năm. Nhưng chỉ duy nhất một chiếc giành giải quán quân, đó là Golf Mk3 vào năm 1992.

Chiếc Golf Mk4 đầu tiên được giới thiệu vào tháng 8, 1997 kế tiếp là phiên bản xe khách (VW Bora hoặc Jetta ở thị trường Bắc Mỹ) vào tháng 8, 1998 và chiếc Golf Variant (estate) vào tháng 3, 1999. Thế hệ Mk4 không có bản mui xếp Cabriolet. Phiên bản hiệu suất cao Golf “R32” được trang bị động cơ 3.2 lít VR6 dẫn động 4 bánh xuất hiện năm 2004, người tiện nhiệm của nó là chiếc Golf V6 4Motion trang bị động cơ 2.8 lít VR6 (thừa kế của động cơ 2.9 lít Mk3 trên chiếc Golf VR6 Syncro).

Đến tận 2008, các biến thể của Golf/Bora Mk4 vẫn còn được sản xuất tại Brazil, Trung Quốc và Mexico. Phiên bản chỉnh sửa của Golf Mk4 được tiêu thụ ở Canada dưới cái tên Golf CityJetta City từ 2007-2010. Đến 2008, 2 mẫu xe này được tái thiết kế, thổi vào một luồng khí tươi mới. Cả 2 mẫu xe được trang bị động cơ xăng 2.0 lít, SOHC 8 van, 115 mã lực cùng hộp số tự động 6 cấp. Golf Mk4 ngừng sản xuất từ 2006 tại thị trường Mỹ trong khi tại Châu Âu, dây chuyền sản xuất thế hệ thứ 4 đã chấm dứt từ 2003.

Một số người yêu xe đối với Golf Mk4 đã ‘độ’ ngoại thất của những chiếc Bora hoặc Jetta và đặt cho nó cái những biệt danh khác như Bolf, Joft hay Roft, mặc dù những phiên bản độ này không bao giờ được VW đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, ở thị trường Trung Quốc, chiếc Bora độ kiểu đã được đưa vào sản xuất với cái tên mới Bora HS.

Bời vì Golf Mk4 rất phổ thông và giá thành rẻ nên nó vẫn được sản xuất tại một số các quốc gia như Brazil và Argentina.

Chili Pepper Winter Autoshow 2011

Ớt hiểm hội tụ lần 2 với tổng số xe tham gia gấp đôi lần Autumn Autoshow lần trước đến từ các nhà Yat Ming, Welly, Bburago, Maisto, Speedy, Motor Max, Kinsmart và Saico. Đặc biệt có sự tham gia của một em ‘bé bự’ 1:18, hai em 1:32 và một em mui trần chưa rõ lai lịch trong Old Boys Series tỉ lệ 1:36, tổng số xe 1:24 tham gia lần này là lên tới 19 em. Hiện tổng số xe mô hình tỉ lệ từ 1:64 đến 1:18 mà Chili Pepper Garage đang sở hữu là 37 chiếc, bao gồm luôn cả 14 chiếc trong Old Boys Series.

Old boys series: Những gã hippie già bảnh choẹ

Garage Chili Pepper mở thêm chuyên mục mới phục vụ cho nhu cầu show hàng của mấy “gã trai già” có tuổi đời trên dưới 20 năm trong bộ sưu tập đã thất lạc nay lại tìm thấy của tui! Bộ sưu tập chỉ có 14 chiếc xoay quanh các tỉ lệ 1:36, 1:32 và 1:64 mang nhiều giá trị tinh thần đối với chủ garage Chili Pepper : ). Hầu hết đều được mua ở cửa hàng Bách hoá tổng hợp (nay là thương xá Tax)  hoặc ở tiệm đồ chơi gần khu Lăng cha cả, Tần Bình mỗi lần ba tui đưa chơi. Nhà tui hồi đó ờ đường Tôn Thất Đạm, Q1, chỉ cần đi bộ băng qua chợ cũ hoặc đi dọc đường Pasteur một đoạn là tới ngay thương xá Tax. Hồi đó còn rạp chiếu phim Vinh Quang ngay góc Pasteur – Lê Lợi (kế kem Bạch Đằng) mà ba tui hay dẫn tui vô coi trước khi qua Tax chơi, nay rạp đã bị đập đi làm cái vườn nướng khỉ gió gì đó…

Hai em này, tui mua (ý là ba tui mua) cách nhau khoảng mấy tuần thì phải, không nhớ rõ lắm, lúc tui khoảng 12-13 tuổi. Bao giờ cũng vậy, có xe mới là y như rằng tui lôi tăm bông ra, thấm cồn 90 độ hoặc nước thường hí hoáy hí hoáy lau lau chùi chùi. Và lúc nào tui cũng tỏ ra rất ư là ‘công tâm’ không thiên vị em nào hết, lau chùi sạch như nhau, tui cứ sợ lau em này sạch quá thì em kia sẽ ganh tị ^^ (haha).