Land Rover Freelander

Land Rover Freelander nằm trong phân khúc SUV hạng nhỏ của nhà sản xuất xe xứ sở sương mù Anh Quốc. Phiên bản đang được bán rộng rãi tại thị trường Bắc Mỹ có tên LR2Freelander 2 tại thị trường Châu Âu. Freelander với thiết kế cấu trúc thân nguyên khối không giống như những chiếc SUV truyền thống khác dùng thiết kế thân đặt trên khung rầm.

Báo cáo nghiên cứu thị trường của Rover Group cuối những năm 1980 chỉ ra rằng Land Rover có thể thâm nhập thị trường SUV loại nhỏ. Ngay đầu những năm 1990, đã giới hạn ngân sách phát triển sản phẩm và bắt đầu tìm kiếm đối tác để phát triển dự án CB40 – toà nhà Canley Building 40, nơi bản concept của Freelander phôi thai. Hãng Honda, đối tác của Rover đã thoái lui và chọn tự phát triển mẫu CR-V của họ, sau đó mẫu xe này được công bố năm 1997. Tuy nhiên, Rover vẫn không từ bỏ dự án CB40, họ tự phát triển dựa trên các phần có sẵn của chiếc MGF roadster. Khi tập đoàn BMW tiếp quản Rover Group vào năm 1994, dự án CB40 nhận được khoản ngân sách cần thiết để tiếp tục phát triển. Chiếc Freelander được công bố trước công chúng cuối năm 1997 và nó đã trở thành mẫu xe dẫn động 4 bánh bán chạy nhất Châu Âu đến tận năm 2002. Bản Freelander đời cuối (đời 2005) được bán tại thị trường Bắc Mỹ.

Freelander có một số phiên bản khác nhau: 5 cửa và 3 cửa mui thùng mềm (softback – semi convertible), mui thùng cứng và bản bán tải. Năm 2004, Land Rover giới thiệu phiên bản nâng cấp với thiết kế nội thất mới và những thay đổi lớn ở ngoại thất bao gồm phần đầu và đuôi mới. Phiên bản 3 cửa mang các mã E, S, SE, Sport và Sport Premium và bản 5 cửa mang các mã E, S, SE, HSE, Sport và Sport Premium.

Động cơ

Các tuỳ chọn động cơ cho Freelander:

  • Xăng 1.8 lít l4 Rover K-Series (1997-2006) – gắn mác ‘1.8i’ loại này không bán ở Bắc Mỹ
  • Dầu diesel 2.0 lít I4 Rover L-Series (1997-2006) – gắn mác ‘Di’
  • Dầu diesel 2.0 lít I4 BMW M47 (2001–2006), gắn mác ‘TD4’
  • Xăng 2.5 lít V6 Rover KV6 Engine (2001–2006), gắn mác ‘V6’

Hộp số tay ban đầu được trang bị mặc định cho các đời xe đầu tiên, nhưng càng về sau, hộp số tự động Tiptronic được ưa chuộng hơn và trở thành tiêu chuẩn mặc định cho bản gắn máy V6.

Đánh giá của Chili Pepper Garage

Một trong những mẫu xe hiệu X-car của Hongwell hiếm hoi mà tui tìm mua thanh lý được vài ngày trước của một anh giáo cũng mê xe trên diễn đàn clbmohinh.com :). Anh này chơi xe khá kỹ, nước sơn ngon lành chỉ có phần cửa kính hơi bị trầy, chắc do lau bằng khăn vải cứng đây. Hàng 1:43 của M-Tech và X-car hầu như đã tuyệt chủng ở các shop đồ chơi tại Sài Gòn. Nhà phân phối trước đây của X-car là công ty Phương Nga – PNC đã chuyển hẳn sang phân phối cho Hotwheels, chuyên tỉ lệ 1:64.

NFSRP: Mazda RX-8

Xuất hiện trong NFS: Underground 2, UndercoverFast & Furious: Tokyo Drift (iOS version)

Mazda RX-8 là một chiếc coupé thể thao ‘bé hạt tiêu’ của Mazda Motor Corporation, là ‘kẻ kế thừa’ vương triều của huyền thoại Mazda RX-7, nổi tiếng với động cơ trục quay Wankel mạnh mẽ (rotary engine). RX-8 được chính thức bán tại thị trường Bắc Mỹ từ năm 2004.

Khủng hoảng và hồi sinh

Cho đến ngày 23 tháng 8, 2011, Mazda đã chính thức tuyên bố sẽ ngừng sản xuất mẫu RX-8 trên toàn cầu. Trước đó một năm là 2010, RX-8 đã ngừng bán vì không vượt qua được tiêu chuẩn khí thải khắt khe ở châu lục này. Chính vì gặp khó khăn ở Châu Âu và đồng Yên Nhật tăng giá, Mazda đã không thể tiếp tục duy trì doanh số bán ở các thị trường khác, bao gồm cả Bắc Mỹ.

Mazda giới thiệu những mẫu xe hơi trang bị động cơ trục quay tại Mỹ năm 1971, khởi đầu với các mẫu RX-2, RX-3, RX-4, RX-5 và cuối cùng là ba thế hệ của chiếc thể thao RX-7. Tuy nhiên, sự thiếu tiện nghi và bất tiện cho người lái cộng với mức giá cao và thoái trào của xe thể thao và coupé lúc đó đã rút RX-7 ra khỏi hầu hết các thị trường lớn, ngoại trừ ở Nhật. Sau năm 1995, Mazda một lần nữa chật vật với dây chuyền sản xuất ở Mỹ để cứu lấy mẫu MX-5 Miata. Xu hướng ưa chuộng các xe nhập khẩu và xe công suất cao tại Mỹ đã trở lại vào cuối thập niên 90, cùng với tác động ảnh hưởng tích cực về văn hóa như trường hợp của dòng game Gran Turismo trên Sony PlayStation, các nhà sản xuất xe hơi Nhật đã quay trờ lại thị trường xe hơi béo bở này.

Thêm vào đó, Mazda nỗ lực để vực dậy chính mình, được sự giúp đỡ về tài chính và quản lý từ Ford và thành công trong việc phát triển dòng xe mới chất lượng cao cả về hình thức lẫn khả năng vận hành cực tốt. Bắt đầu với mẫu Mazda 6 sau đó là Mazda 3 tạo tiền đề cho các thế hệ xe hơi trang bị động cơ trục xoay thể thao sau này.

Động cơ Wankel và hệ thống treo đặc biệt

Động cơ trục xoay Wankel được phát minh bởi kỹ sư người Đức Felix Wankel (đọc là Van-ken). Ông được cấp bằng sáng chế năm 1929, động cơ bắt đầu được nghiên cứu và phát triển từ đầu những năm 50 ở NSU – NSU Motorenwerke AG tiền thân của Audi sau này sau khi sát nhập vào Volkswagen Group năm 1969. NSU đã bán bản quyền concept động cơ cho các công ty khác trên khắp thế giới để cùng đẩy mạnh phát triển các thiết kế ban đầu. Mazda là một trong số các hãng sản xuất xe hơi cũng như nhà phát triển hiếm hoi hiện nay sử dụng công nghệ động cơ Wankel.

Động cơ Wankel có cấu trúc và cách vận hành phức tạp hơn nhiều so với các động cơ đốt trong khác. Hình dạng pít-tông hình tam giác đặc trưng cũng như buồng đốt đa khối đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối trong cân chỉnh và gia công. Động cơ Wankel cũng thải ra nhiều khí thải và tiêu tốn nhiều nhiên liệu hơn các loại động cơ truyền thống khác, nhưng bù lại, công suất do nó tạo ra lớn hơn nhiều so với các loại động cơ khác cùng dung tích máy. Chiếc RX-8 chỉ trang bị động cơ Wankel 1.3 lít nhưng công suất tối đa lại đạt được tới 239 mã lực! Đúng là nhỏ mà có võ!

Link cho bạn nào thích tìm hiểu về động cơ Wankel @ YouTube

RX-8 được thiết kế vị trí đặt khối máy nằm giữa-trước, dẫn động bánh sau, 4 chỗ, coupé 4 cửa. Tỉ số phân bố lực trước và sau là 50:50, một con số cân bằng trọng tâm lý tưởng, đề đạt được tỉ số này, Mazda đã gắn máy ở trục trước và bình xăng ở trục sau. Cấu trúc bánh lái trước được giữ nguyên với hệ treo (nhún\giảm chấn) xương cá kép độc lập, trong khi hệ treo sau dùng cấu trúc liên kết đa điểm độc lập. Trọng lượng xe được cắt giảm nhờ sử dụng các vật liệu nhẹ như nhôm và nhựa để chế tạo các tấm ốp thân xe. Toàn bộ thân xe được phủ bằng vỏ thép cán mỏng trong khi cản trước và cản sau làm từ nhựa kỹ thuật chịu va đập vật lý.

Phiên bản RX-8 trang bị hộp số tay sử dụng thanh truyền động bằng sợi composite siêu bền để giảm thiểu lực vặn xoắn (quán tính) khi kết nối bánh sau với động cơ đặt phía trước. Năng lượng được truyền tới trục sau nhờ bộ vi sai trượt giới hạn Torsen nhằm tăng tính cơ động khi vận hành. Các thiết kế kỹ thuật thông minh và hệ thống treo được tinh chỉnh đặc biệt của các kỹ sư Mazda đã mang lại cho RX-8 khả năng vận hành xuất sắc, được tán dương nhiệt liệt và gặt hái hàng loạt giải thưởng quốc tế danh giá. Điều đó minh chứng cho giá trị tinh thần cầu tiến, đầy nhiệt huyết, quyết tâm của các nhà sản xuất và kỹ sư Nhật Bản.