P.A.N.D.O.R.A Force mô phỏng huấn luyện tác chiến đô thị đầu Xuân 2014 với PG-04A ‘Urban Rhino’

Tiếp sau chuỗi sự kiện tập trận quy mô nhỏ và vừa bắt đầu từ giữa năm 2013 do tình hình an ninh có những chuyển biến phức tạp khó lường. P.A.N.D.O.R.A Force lại tiếp tục tích cực chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng ứng biến nhanh khi nổ ra xung đội quy mô cục bộ tại một số ‘điểm nóng’ như các vùng biên giới, hải đảo.

Trong lần tập trận bắn đạn thật cấp tiểu đoàn đầu Xuân Giáp Ngọ 2014, P.A.N.D.O.R.A Force vừa đưa vào trang bị mẫu G.I.A.N.T mới PG-04A ‘Urban Rhino’, định danh gundam là GPB-06F Super Custom Zaku F2000.

PG-04A có biệt danh ‘tê giác đô thị’ bởi khả năng tác chiến trong môi trường đô thị vượt trội của nó. Kíp lái chỉ cần 2 sĩ quan, một lái một điều khiển hoả lực, còn lại các công việc hỗ trợ đều được tự động hoá với hệ thống máy tính trung tâm TeCra Mk3 vừa được nâng cấp.

PG-04A được trang bị giáp hỗn hợp composite-gốm-thép dầy 400mm bọc ngoài lớp giáp hợp kim mặc định dầy 200mm nhằm tăng cường khả năng sống sót và chiến đầu trong môi trường dễ bị tập kích bởi hoả tiễn chống tăng của địch. Hệ thống phòng ngự chủ động Trophy Mk6 cũng được tích hợp để tiêu diệt hiệu quả các mục tiêu bay như UAV cảm tử, rocket, đạn cối hay thậm chí tên lửa diệt tăng tốc độ cao bắn từ các tổ hợp tên lửa bắn từ nóc nhà hay trực trăng của địch.

Italeri GILERA 4cil. 500cc, raider G. Duke, World Champion 1954

Đây là bất ngờ đầu năm 2013 của tui, một mô hình diecast của Italeri – hãng mô hình rất nổi tiếng với các loại kit lắp ráp khí tài quân sự! Những tưởng Italeri chỉ sản xuất các loại mô hình kit với độ chi tiết rất cao nhưng tui chưa hề biết đến hãng cũng có dòng mô hình diecast mà còn lại rất phong phú nữa chứ @__@.

Gilera4cil_1 Gilera4cil_2 Gilera4cil_3 Gilera4cil_4 Gilera4cil_5 Gilera4cil_6 Gilera4cil_7 Gilera4cil_8

Đánh giá của Chili Pepper Garage

Thành thực mà nói là tui không hiểu biết sâu rộng về xe mô-tô cũng như các giải đua mô-tô cho lắm, chỉ thấy đẹp, ngộ và đặc biệt là dòng xe mô-tô cổ điển là a-lê đưa các bé về. Em Gilera 500cc này hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí đó. Em Gilera 500cc này còn một phiên bản có tấm vòm bọc đầu dạng khí động để vừa giảm ma sát không khí và vừa bảo vệ tay đua tốt hơn. Phiên bản đó làm tui nhớ đến bộ phim ‘The World’s fastest Indian’ năm 2005 do ngôi sao Antony Hopskin thủ vai chính (idol của tui :D). Bộ phim kể về câu chuyện có thật của một ông già người New Zealand bỏ cả cuộc đời ra để ‘độ’ lại chiếc Indian đời 1920 nhằm thiết lập kỷ lục chiếc xe mô-tô nhanh nhất thế giới tại hồ muối khô ở bang Utah, Mỹ.

Nói chứ chiếc Gilera này cũng không đến nỗi quá già như chiếc Indian 1920 kia :), trờ lại bài viết

Dassault Rafale M

Dassault Rafale là một máy bay chiến đấu đa nhiệm thế hệ 4.5, dùng cánh tam giác và hai động cơ rất nhanh nhẹn của Pháp, được thiết kế và chế tạo bởi hãng Dassault Aviation. Dassault đã sử dụng khái niệm ‘Omni Role’ (mọi nhiệm vụ) làm thuật ngữ tiếp thị nhằm phân biệt loại máy bay này với các loại máy bay chiến đấu ‘đa nhiệm vụ’ (multi-role) khác có phân biệt nhiệm vụ chính và các nhiệm vụ phụ khác. Dassault cũng sử dụng thuật ngữ này để chỉ khả năng chuyển từ nhiệm vụ này sang nhiệm vụ khác của Rafale trong từng phi vụ, dù thuật ngữ này mang nhiều ý nghĩa tóm gọn khả năng thực sự của Rafale thay thế được hoạt động của bảy loại máy bay khác nhau.

Rafale đang được chế tạo để sử dụng cho cả các căn cứ trên mặt đất của Không quân Pháp và trên tàu sân bay của Hải quân Pháp. Nó cũng đã được tiếp thị xuất khẩu, và tuy chưa có hợp đồng nào được ký kết, nhiều nước đã bày tỏ sự quan tâm tới Rafale. Điển hình là vào năm 2008, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất – UAE, ký thỏa thuận với Pháp để mua 60 chiếc tiêm kích Rafale, thế nhưng đến nay (2012) thỏa thuận này đã chính thức đổ vỡ. Tuy nhiên, nghành công nghiệp máy bay – quốc phòng Pháp đã thoát hiểm trong gang tấc sau khi kí được hợp đồng xuất khẩu và chuyển giao công nghệ cho Ấn Độ (đầu năm 2012) với số lượng lên đến 126 chiến đấu cơ Rafale, trị giá hơn 10 tỷ đô-la. Hợp đồng này chưa bao gồm chi phí bảo trì, bảo dưỡng kỹ thuật định kì. Rafale đã xuất sắc vượt qua các đối thủ nặng ký như F-16, F/A 18 Super Hornet, Mig-29 OVT (Mig-35), Eurofighter Typhoon và Jas Grinpen trong cuộc đấu thầu do Ấn Độ tổ chức.

Các biến thể

Rafale A
Đây là một chiếc máy bay trình diễn kỹ thuật cất cánh lần đầu năm 1986, như được miêu tả ở trên. Hiện nó đã ngừng hoạt động.
Rafale D
Dassault đã dùng định danh này (D là viết tắt của discret hay tàng hình) đầu thập niên 1990 cho các phiên bản chế tạo choArmée de l’Air, để nhấn mạnh các tính năng bán tàng hình mà họ đã thêm vào cho kiểu thiết kế này. Nhiều nguồn tin đã thông báo rằng việc phát triển một hệ thống tàng hình tích cực, sẽ liên quan tới việc sử dụng một hệ thống sẽ phát ra các sóng “xóa dấu vết”.[cần dẫn nguồn]
Rafale B
Đây là phiên bản hai chỗ ngồi cho Armée de l’Air; đã được giao hàng cho EC 330 năm 2004.
Rafale C
Đây là phiên bản một cho ngồi cho Armée de l’Air; đã giao hàng cho EC 330 tháng 6 năm 2004.
Rafale M
Đây là phiên bản hoạt động trên tàu sân bay cho Aéronavale, đã đi vào hoạt động năm 2002. Rafale M nặng hơn Rafale C 500 kg (1.100 lb). Bề ngoài rất giống Rafale C, những điểm khác biệt của phiên bản M là:

  • Tăng sức khả năng đáp ứng với các điều kiện khắc nghiệt khi hoạt động trên tàu sân bay
  • Bánh đáp vững chắc hơn
  • Bánh đáp mũi dài hơn nâng cao mũi thích ứng khi sử dụng máy phóng
  • Bỏ pylon giữa (để kéo dài bánh đáp trước)
  • Móc đuôi lớn kiểu stinger giữa hai động cơ
  • Thang lên buồng lái tích hợp vận hành bằng điện
  • Hệ thống hạ cánh trên tàu sân bay bằng vi sóng
  • Bệ quán tính “Telemir” có thể tương thích với các cải tiến của các hệ thống trên tàu sân bay.
Rafale N
Rafale N, trước kia được gọi là Rafale BM, được dự định là một phiên bản hai chỗ ngồi cho Aéronavale. Những khó khăn tài chính và chi phí huấn luyện tăng cao cho thêm một phi công nữa được coi là nguyên nhân dẫn tới việc nó bị hủy bỏ.

Hệ thống chiến đấu

Lần đầu tiên trong lịch sử hàng không, Rafale mang một hệ thống tồn tại điện tử tích hợp được đặt tên SPECTRA với tính năng tàng hình dựa trên kỹ thuật phần mềm ảo. Nhưng cảm biến quan trọng nhất là radar quét điện tử thụ động đa phương thức Thales RBE2. Thales tuyên bố đã đạt tới một mức độ nhận thức tình huống cao nhất từ trước tới nay thông qua việc thám sát và theo dõi sớm nhiều mục tiêu trên không cho cận chiến và can thiệp tầm xa, các bản đồ ba chiều thời gian thực cho việc theo dõi mặt đất, và các bản đồ thời gian thực độ phân giải cao mặt đất cho hoa tiêu và ngắm mục tiêu.

Tuy nhiên, trong những trường hợp cần sự điều khiển, Rafale có thể sử dụng nhiều hệ thống cảm biến thụ động:

hệ thống cảm biến điện quang học (electro optical system) phía trước (front-sector) hay Optroniques Secteur Frontal (OSF), do Thales phát triển, hoàn toàn được tích hợp bên trong máy bay và có thể hoạt động cả ở tầm sóng nhìn thấy được và sóng hồng ngoại.

Hệ thống chiến tranh điện tử SPECTRA, được hợp tác phát triển giữa Thales và EADS France, khiến chiếc máy bay có khả năng tổn tại cao nhất trước những mối đe dọa từ trên không và dưới mặt đất.[cần dẫn nguồn] Các đường nối dữ liệu thời gian thực cho phép máy bay không chỉ liên lạc với các máy bay khác, mà còn với các trung tâm chỉ huy và điều khiển cố định, di động dưới mặt đất. Khi nhiệm vụ đòi hỏi, Rafale cũng có thể dùng thiết bị chỉ định điện quang học/laser DAMOCLES khiến nó có đủ khả năng LGB đầy đủ trong cả điều kiện ban ngày lẫn ban đêm, dù Không quân hiện có kế hoạch sử dụng các vũ khí xa (stand off) cho Rafale và vai trò LGB cho những chiếc Mirage 2000.

Các hệ thống trung tâm của Rafale sử dụng một thiết bị Điện tử Modul Tích hợp (Integrated Modular Avionics – IMA), được gọi là Thiết bị Xử lý Dữ liệu Modul (Modular Data Processing Unit – MDPU). Cơ cấu này đảm nhận mọi chức năng chủ chốt của máy bay như một Hệ thống kiểm soát bay, Tổng hợp Dữ liệu, Kiểm soát bắn, Giao tiếp phi công-máy bay, vẫn vân..[1].

Đặc điểm chung

  • Đội bay: 1-2
  • Chiều dài : 15,27 m (50,1 ft)
  • Sải cánh : 10,80 m (35,4 ft)
  • Chiều cao : 5,34 m (17,4 ft)
  • Diện tích cánh: 45.7 m² (492 ft²)
  • Trọng lượng không tải : 9.060 kg (20.000 lb)
  • Trọng lượng có tải: 9.500 kg (21.000 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa : 24.500 kg (54.000 lb)
  • Động cơ : 2 x SNECMA M88-2 tuốc bin cánh quạt lực đẩy có đốt sau: 75 kN (17.000 lbf)

Đặc tính bay

  • Tốc độ tối đa : >Mach 2 (2.250 km/h)
  • Tầm hoạt động : 1.800 km (970 nm, 1.100 mi)
  • Trần bay : 18.000 m (60.000 ft)
  • Tốc độ lên cao : 333 m/s (65.600 ft/min)
  • Áp lực cánh: 326 kg/m² (83 1/3 lb/ft²)
  • Lực đẩy/trọng lượng: 1.13

Radar dẫn đường

Vũ khí

Trên 8000 kg vũ khí, bao gồm:

Đánh giá của Chili Pepper Garage

Em này là chiếc tiêm kích của Pháp thứ 2 có mặt trong phi đoàn Chili Pepper P.A.N.D.O.R.A. Rafale M hiện đại hơn nhiều so với ‘tiền bối’ SEPECAT Jaguar A. Trang bị của phiên bản Rafale M của P.A.N.D.O.R.A hoàn toàn đáp ứng cho các nhiệm vụ đánh chặn trên biển. Cùng với sự phối hợp của các tiêm kích khác trong phi đoàn như F/A-18 Hornet, F-14 Tomcat, MiG-29, MiG-23, F-15E Strike Eagle và F-4S Phantom II có thể đẩy lùi các đợt tập kích bất ngờ từ phía biển của địch. Đối thủ giả định chính của phi đoàn P.A.N.D.O.R.A là các tiêm kích J-10, J-11 và JF-17 trong các cuộc tập trận quy mô gần đây tại các đảo không-xác-định tại biển Đông.

Rafale M còn tham gia các nhiệm vụ tập trận không-đối-hải, mục tiêu giả định là các tàu đổ bộ hạng nặng, tàu khu trục và tàu sân bay.

SEPECAT Jaguar ‘A’ 1980

SEPECAT Jaguar (báo SEPECAT) là máy bay cường kích được Anh và Pháp hợp tác sản xuất, hiện nay vẫn còn hoạt động trong biên chế quân đội các quốc gia như Không quân Ấn Độ và Không quân Hoàng gia Oman. Nó là một trong số những máy bay quan trọng đầu tiên trong chương trình máy bay quân sự giữa Anh-Pháp. SEPECAT Jaguar được dùng như máy bay cường kích/tấn công chủ lực trong Không quân Pháp cho đến khi bị loại khỏi biên chế vào 1 tháng 7 năm 2005 (khi Dassault Rafale thay thế SEPECAT Jaguar) và tại Không quân Hoàng gia Anh là đến hết tháng 4 năm 2007. Chiếc Jaguar của RAF thực hiện chuyến bay cuối cùng của nó vào 30 tháng 4 năm 2007, nó ngừng triển khai trong các đơn vị không quân và khi Phi đội số 6 rút chúng khỏi biên chế, tuy nhiên các chuyến bay vẫn còn được tiếp tục. Ít nhất hai chiếc vẫn còn tiếp tục bay cho hãng QinetiQ tại Boscombe Down sau khi Phi đội số 6 loại chúng khỏi biên chế hoạt động.

Bối cảnh

Chương trình Jaguar bắt đầu vào đầu thập kỷ 1960, là lời đáp cho yêu cầu của không quân Hoàng Gia Anh cho một máy bay huấn luyện phản lực siêu âm cao cấp, và yêu cầu của Pháp cho một máy bay tấn công và huấn luyện cận âm có giá thành rẻ và hiệu năng tốt trong phạm vi chiến trường nhỏ. Từ những mục tiêu rõ ràng khác nhau đã dẫn đến một phiên bản máy bay chiến đấu được trang bị đầy đủ: công nghệ cao áp dụng tương đối, tốc độ siêu âm, và được tối ưu hóa cho khả năng tấn công mặt đất trong điều kiện nguy hiểm cao. Nó được dự kiến như một sự thay thế cho máy bay Hawker Hunter của RAF và F-100 Super Sabre của Armée de l’Air (không quân Pháp).

Những sự điều đình theo các đường lối khác nhau đã dẫn tới sự hình thành của SEPECAT (Société Européenne de Production de l’Avion d’École de Combat et d’Appui Tactique) vào năm 1966 như một sự hợp tác mạo hiểm giữa Bréguet—hiện này là Dassault Aviation—và British Aircraft Corporation, để sản xuất khung máy bay, và một nhóm tách rời của Rolls-Royce và Turboméca để phát triển động cơ phản lực cánh quạt đẩy đốt nhiên liệu lần hai Adour. Tuy dựa vào một phần nào của Breguet 121, sử dụng cùng hình dạng cơ bản và một thiết kế có tính đổi mới của Pháp đối với hệ thống bánh đáp, Jaguar được xây dựng hợp nhất với các bộ phận được thiết kế bởi BAC – đáng chú ý là cánh và phương án tạo lực nâng lớn.

Nguyên mẫu đầu tiên trong 8 chiếc đã bay vào 8 tháng 91968. Nó là thiết kế một chỗ ngồi chính thống, cánh cụp, hai động cơ nhưng với bộ bánh đáp khá cao. Nó có một trọng lượng cất cánh cực đại là 15 tấn và có thể hoạt động trong bán kính chiến đấu với nhiên liệu bên trong là 850 km. Tốc độ tối đa là Mach 1.6 (Mach 1.1 trên biển) và giá treo vũ khí có thể mang đến 10.000 lb (4.500 kg) vũ khí.

Thay thế

Mẫu máy bay này đã được nâng cấp một số lần và tiếp tục hoạt động trong các đơn vị của Ấn Độ và Oman. Nó sẽ được thay thế bởi Eurofighter Typhoon trong RAF và Rafale trong Armée de l’Air (không quân Pháp). Trong kế hoạch của Ấn Độ, nước này có teher thay thế các phi đội Jaguar của mình bằng Medium Combat Aircraft.

Những yêu cầu của Bộ tài chính Vương quốc Anh đòi hỏi cắt bớt ngân sách quốc phòng dẫn đến thông báo rằng Jaguar sẽ là một ứng cử viên khả dĩ có thể sớm bị rút khỏi biên chế. Việc công bố những kế hoạch trong tương lai của Quân đội Anh vào 21 tháng 7 năm 2004, thư ký bộ trưởng quốc phòng Anh Geoff Hoon đã nêu những chi tiết của kế hoạch rút Jaguar khỏi biên chế vào năm 2007. Và thời gian này được ấn định vào 30 tháng 4 năm 2007.

Những nhà phê bình nói máy bay đã gần kết thúc tuổi thọ sử dụng của nó và không có khả năng để đáp ứng những yêu cầu của một máy bay phản lực chiến đấu hiện nay. Những đề xuất được tranh luận nói rằng máy bay mới được nâng cấp gần đầy và là chi phí có hiệu quả nhất trong tất cả các máy bay phản lực của RAF.

Lịch sử hoạt động

Armée de l’Air (không quân Pháp) nhận những chiếc Jaguar đầu tiên vào năm 1973 trong tổng số 160 chiếc Jaguar A một chỗ ngồi. Với kiểu Jaguar dành cho huấn luyện chuyển đổi, Pháp đã nhận 40 chiếc Jaguar E hai chỗ ngồi. Sau khi Breguet bị mua lại bởi hãng Dassault, phiên bản Jaguar M đã được đề xuất, một phiên bản trên tàu sân bay cho hải quân Pháp, nhưng đã bị hủy bỏ vì lợi ích của Dassault Super Étendard.

Jaguar đã xuất hiện trong các trận không chiến tại Chiến tranh vùng Vịnh lần đầu năm 1991 trong các phi đội của Armée de l’Air và RAF, Chiến tranh Balkan với RAF, Chiến tranh Kosovo với Armée de l’Air và Chiến tranh Kargil trong Không quân Ấn Độ. Tuy nhiên, trong Chiến tranh vùng Vịnh 1991, những chiếc Jaguar của RAF đã hoạt động với những chiếc Bucanner cũng được nâng cấp với TIALD.

Một chiếc Jaguar đã được chuyển đổi thành Jaguar Active Control Technology (ACT) với hệ thống điều khiển lái fly-by-wire và những thay đổi khí động học đối với khung máy bay. Khả năng cơ động được cải tiến nhờ vào thử nghiệm khí động học và những dữ liệu thử nghiệm này đã được sử dụng để phát triển Eurofighter Typhoon.


Thông số kỹ thuật

  • Phi đoàn: 1
  • Chiều dài: 16.83 m (55 ft 3 in)
  • Sải cánh: 8.69 m (28 ft 6 in)
  • Chiều cao: 4.92 m (16 ft 1 in)
  • Diện tích cánh: 24 m² (258 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 7.000 kg (15.400 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 11.000 kg (24.250 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 15.700 kg (34.600 lb)
  • Động cơ: 2× động cơ phản lực Rolls-Royce/Turbomeca Adour Mk 102, 32.5 kN (7.305 lbf) mỗi chiếc

Hiệu suất bay

Vũ khí

  • 2x pháo ADEN 30 mm hoặc pháo DEFA với 150 viên đạn mỗi khẩu.
  • 5 giá treo dưới cánh mang được 4.500 kg (10.000 lb) vũ khí.
  • Tùy chọn cho 2 tên lửa Matra R550 Magic hoặc AIM-9 Sidewinder trên các giá treo (chỉ trên những chiếc Jaguar International và RAF Jaguar).
  • Rocket LAU-5003B/A CRV-7.
  • Thiết bị kết nối trinh sát.

Nguồn: WikiPedia – http://vi.wikipedia.org/wiki/SEPECAT_Jaguar

Đánh giá của Chili Pepper Garage

Đây là chiếc máy bay cường kích thứ 3 trong gia đình máy bay chiến đấu của Chili Pepper Garage, và là chiếc đầu tiên có nguồn gốc từ Châu Âu. Thực sự trước đến giờ tui không khoái máy bay Châu Âu  lắm, vì chúng ít nổi tiếng như các máy bay chiến đấu của US hay của Nga và thêm nữa, bề ngoài của chúng nhìn hơi…ngu ngu, ngồ ngộ :D. Chiếc SEPECAT Jaguar A này cũng không phải ngoại lệ, tui chọn nó vì thiết kế giá treo vú khí có một-không-hai của nó – nằm trên cánh. Tuy nhiên trong kit này của Italeri, không có option cho vũ khí nằm trên cánh :(.

Sau khi không quân Pháp cho hàng loạt các em này nghỉ hưu năm 2005, một số chiếc đã được đem đấu giá phần vỏ ờ một phiên hội chợ tháng 6, ngoại ô Toulouse (động cơ Rolls-Royce đã được giữ lại để tái sử dụng cho các mục đích khác). Chili Pepper Garage đã quyết định…quăng gạch để rước em ấy về dinh trưng bày :D. Hiện các kỹ sư của Chili Pepper Garage đang thử nghiệm lắp đặt 2 động cơ turbin mới của General Dynamics tương đương với động cơ Rolls-Royce cũ và sẽ tiến hành thử nghiệm trong đường ống mô phỏng trước khi bay thử vào một ngày gần đây.

Phần này là thật nè :P, về chất lượng kit của Italleri thì không cần bàn nhiều, chi tiết đâu ra đó, nhựa tốt, dễ mài và ít để lại tưa nhựa, lằn chìm đầy đủ (nhưng nếu thấy được cả tán ri-vet như F/A-18 Hornet của Academy thì sẽ còn tuyệt vời nữa :D ).